Người và đất miền Nam trong Tình Ca và trường ca Con Đường Cái Quan
Nói đến Phạm Duy là nói đến gương mặt đặc biệt của nền tân nhạc Việt
Nam. Ông sáng tác nhiều, bài ca nào cũng đi vào lòng người. Từ “tình ca” đến
“tâm ca”, từ “đạo ca” đến “tục ca” …, mỗi chủ đề, đề tài đều chở được những điều
mà ông muốn sẻ chia cùng những người yêu nhạc.
Nhạc của ông, tầng lớp nào cũng có thể thưởng thức được. Từng nghe nhiều
bài của ông, tôi thấy cõi lòng ông gắn bó với quê hương, đất nước. Đến cuối cuộc
đời, ông cũng tìm cách gửi thân xác của mình nơi chốn quê hương như là một minh
chứng cho những giai điệu từng là máu thịt của ông. Những giai điệu ấy là tình
yêu quê hương, yêu đất nước này vô hạn. Và riêng những lời ca trong Tình Ca và trường ca Con Đường Cái Quan một phần nào thể hiện
được tấm lòng với quê hương, đất nước. Trong phạm vi bài này, xin đề cập những
ca từ về một phần của Tổ quốc Việt Nam. Đó là người và đất miền Nam trong Tình Ca và trường ca Con Đường Cái Quan.
Trước tiên, trong Tình Ca, là
hình ảnh đẹp về người nông dân đi mở đất. Đó là hình ảnh “bác nông phu”, “mẹ
quê”, “trẻ quê”. Hình ảnh ấy trở
thành biểu tượng của người Việt một thời. Ca từ da diết, thương cảm, sẻ chia, tự
hào:
Tôi yêu bác nông phu
Đội sương nắng bên bờ ruộng sâu
Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo
Mình đồng da sắt không phai màu
Tấm áo nâu những mẹ quê chỉ biết cần
lao
Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi
Tấm áo nâu, rướn mình đi từ cõi rừng
cao
Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, áo ơi!.
Mỗi lần nghe đoạn này, lòng tôi lại liên tưởng đến câu ca dao “Ai ơi,
bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” mà người nông dân “đội
sương nắng” trên “đất nghèo” quê Việt. Tôi cũng như thấy những người mẹ tảo tần,
vất vả mưu sinh vì con, vì cháu, không một lời than thân trách phận; mẹ chỉ có
tâm niệm cầu Trời khấn Phật xin bình an ở cõi đời này. Tôi cũng thấy hình ảnh
những trẻ thơ một thời trên lưng trâu nghêu ngao hát “Ai bảo chăn trâu là khổ?”.
Và cả lòng tôi tràn ngập hình ảnh “áo nâu” một thời đi tìm đất sống, đi tìm tự
do, đi tìm và giữ lại chất người ở vùng đất “Con chim kêu phải sợ, con cá kình
phải kinh”, “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/ Xuống sông sợ đĩa, lên rừng cọp um” (ca dao), nhưng vẫn là vùng đất trù phú,
màu mỡ, đầy ân tình“chờ sức người vươn” để “lúa miền Nam chờ gió mùa lên” và “sống
no đầy là nhờ Cửu Long”.
Còn trong trường ca Con Đường Cái
Quan, phần thứ 3 (Vào Miền Nam) cho
người nghe, kẻ thưởng thức hình ảnh người và đất nơi đây. Đó là lời của cô gái
miền Nam với lữ khách:
Hò ơ ơ ớ ơ… hò
Bớ anh đi đường vắng đường xa
Dừng chân đứng lại (i ì)
Hò ơ ơ ớ ơ… hò
Nghe em đây ca đôi lời
Chiều về trên cánh Đồng Nai
Chờ người xây đắp ngày mai…
Lời mời gọi đằm thắm thật thà của cô gái Nam Bộ đã làm xiêu lòng chàng
trai. Lời cô gái như lời của Kiều Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên thuở nọ. Lời của
cô gái như tiếp thêm sức mạnh cho chàng trai. Các chàng trai trên cõi đời này,
ai không rung cảm và trở thành chỗ dựa cho những cô gái thật lòng? Và chính sự
thật lòng của cô gái đã chinh phục được chàng trai, để chàng phải cất lên tiếng
lòng. Lời chàng trai là lời hứa hẹn tình yêu với cô gái. Đó là lời của lòng quyết
tâm, là nghị lực để như nói với nàng:
Nhờ gió đưa về, về miền gió chan hòa
Thơm lòng đất phù sa
Trời nắng huy hoàng, trời sưởi ấm con
đường
Cho ta vô miền sông nước
Chiến đấu với sình lầy
Với thú dữ (ư) tràn đầy
Với lũ muỗi (ư) đặc dầy như đám mây
Chiến đấu với rừng tràm
Ta như ong từng đàn
Lập cuộc đời trên đất rừng hoang.
Và tiếng lòng của chàng trai là niềm tin vào mảnh đất nặng nghĩa tình có
dáng dịu hiền, có lòng chân chất của cô gái Nam Bộ “thiệt thà”, “mặn mà”, “đậm
đà” sẽ cho trái ngọt hoa thơm để chàng sống trong cõi yên lành:
Vào tới xóm dừa, vào vườn chuối la đà
Ôi là mát lòng ta
Bầu vú sữa tròn và mảnh trái thơm ròn
Hương sầu riêng ngọt ngon
Có mái tóc xuề xòa, có khóe mắt thiệt
thà
Đôi môi xinh hàm răng xít xa
Người áo ngắn mặn mà, có tiếng nói đậm
đà
Người yên lành như một giấc mơ…
Tình yêu đầy nghĩa khí, đầy tình cảm chân thật của chàng trai đã khiến
cô gái miền Nam muốn được đi cùng chàng trai trên con đường dựng xây mơ ước và
trong cả cuộc đời phía trước: “Đi đâu cho thiếp theo cùng…”. Và chàng trai đã
thốt lời yêu tự đáy lòng mình: “Ví dầu tình bén duyên thề/ Thì xin kết bạn đền
nghì trúc mai…”.
Duyên thề đã nên, đã ươm hạt giống yêu thương để con người vượt qua mọi
gian truân, thử thách, để tiếng ca vui tràn ngập: “Vợ chồng son đã nuôi lòng ước
mong/ Thuận vợ chồng sẽ cùng tát biển Đông”.
Đất miền Nam đầy “gió vui trên sóng”, đầy con nước từ Tiền Giang đến Hậu
Giang, rộng thênh thang miền đất mới trong chiều mênh mông với “cánh đồng lúa
chín uốn mình trên sóng sông”. Người miền Nam hoan ca khúc hát mở đất về phương
Nam làm nên hình hài Tổ quốc:
Về miền Nam ôi quê hương mới ơi
Về Cần Thơ khơi kinh, khơi nước ngòi
Về Hà Tiên ta tiễn Chúa ra đảo khơi
Về Cà Mau ta đốt biết bao lửa vui
Về miền Nam ta theo cơn gió đưa
Về miền sông ăn cá nướng thơm ngày
mưa
Về đồng dưa ta tắm nắng vui đời ta
Về miền Nam… Về miền Nam
Người về đây trong gió bình an…
Từng lời ca như khẳng định hành động, và trên hết là tình yêu của người
đến vùng đất này. Một loạt địa danh của miền Nam hiện ra toát lên vẻ đẹp của đất
và người trong gió bình an, trong những bếp lửa reo vui, trong những cơn gió hiền
hòa, lẫn mùa gió chướng. Trong ta như được thưởng thức món cá nướng ngày mưa
kèm theo bông điên điển: “Điên điển mà đem muối chua/ Ăn kèm cá nướng đến vua
cũng thèm” (ca dao). Và những mùa nước
lớn những con cá linh như ngon thêm nhờ bông điên điển: “Canh chua điên điển cá
linh/ Ăn chỉ một mình ăn chẳng biết ngon” (ca
dao).
Có thể nói rằng, khúc hoan ca ấy có được đâu phải ngày một, ngày hai, mà
đó là thành quả của máu, mồ hôi, nước mắt, cả mạng sống của những người đã từng
sống ở mảnh đất này. Mỗi lần nghe khúc hát này, lòng tôi như mơn man theo từng
cơn gió, theo từng con nước lớn, nước ròng của từng con kinh, con ngòi của đất
mẹ Cửu Long. Trong tôi như ngọt thơm từng quả chín dậy mùa, như bật mầm thương
yêu bát cơm đầy thơm thảo, như thanh sạch dưới mưa nắng thuận hòa của đất trời
hiến dâng cho người trên mảnh đất miền Nam.
Trong phần cuối trường ca Con Đường
Cái Quan, những lời hát cất lên bởi lòng tri ân của con người ở vùng đất mới.
Tri ân cả “cái cối, cái chày”, “cái nhịp cầu ao” gắn bó, cưu mang những con người
trọng nghĩa nhân trong cuộc sống:
Giã ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giã gạo có mày có tao
Giã ơn cái nhịp cầu ao
Đêm khuya vo gạo có tao có mày.
Con người miền Nam còn tri ân cả quê xưa, nơi quê cha đất tổ, mang theo
cả cái nắng, cái mưa của miền Trung, gió sương, rét mướt của xứ Bắc:
Về miền Nam đem theo sương gió xưa
Về đồng khô đem theo cơn mưa rét về
Người về đây thương nhớ lắm con đường
xa
Về miền Trung, ra xứ Bắc yêu mẹ cha
Đường từ xa đem ta tới đây
Chùa chiều nay rung chuông trên luống
cày
Người gửi ơn ra bốn phía chân trời
mây
Ngẩng đầu lên dâng vút đóa linh hồn
say
Đường về đây… Đường về đây
Trời về Tây nghe gió cuồng bay…
Và cuối cùng là tiếng hát nối tình yêu cả Bắc, Trung, Nam, cả mọi lòng
người yêu đất nước này. Cuối địa đầu của Tổ quốc, người và đất thủy chung, đầy
ân tình với quê hương, đất nước. Những lời cuối của trường ca đẹp như phơi tình
yêu, niềm hy vọng và cả niềm tin:
Người mơ ước tới…
Đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài
Con đường thế giới xa xôi
Trong lòng dân chúng nơi nơi…
Nói tới Phạm Duy, nhiều người khen ông, và chê ông cũng không ít trong
giới thưởng thức, phê bình. Khi học trung học, tôi cũng từng đọc Phạm Duy đã chết như thế nào? (Văn Mới,
1971) của Nguyễn Trọng Văn viết về nhạc sĩ mà tôi ngưỡng mộ bởi tài năng âm nhạc
để biết thêm về ông qua một cách nhìn khác. Dù thế nào đi nữa, Phạm Duy vẫn sống
và vẫn khẳng định mình trong sự nghiệp âm nhạc của mình. Và chỉ riêng một phần
ca từ trong Tình Ca và trường ca Con Đường Cái Quan cũng khẳng định tình
yêu người và đất miền Nam trong ông, để từ đó người và đất miền Nam luôn là một
phần máu thịt của Việt Nam trong lòng người thưởng thức.